Persea americana, hay bơ, được tin rằng có nguồn gốc từ tỉnh Puebla, Mexico,[4] mặc dù các bằng chứng hóa thạch gợi ý rằng các loài tương tự đã phát triển rộng khắp hàng triệu năm về trước, hiện diện xa về phía bắc tới California ở thời điểm mà thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của chúng.[5] Giống bơ bản địa được biết tới với cái tên criollo, là một giống trái nhỏ, vỏ đen sậm, hạt to.[6] Bằng chứng sớm nhất về việc sử dụng trái bơ được tìm thấy trong một hang động ở Coxcatlán, Puebla, Mexico, vào khoảng 10 ngàn năm BC. Cây bơ đã được trồng từ lâu ở Trung và Nam Mỹ; một cái bình nước hình trái bơ, có niên đại AD 900 được phát hiện ở một thành phố Chan Chan thời kỳ tiền Inca.[1] Bài viết sớm nhất về bơ ở châu Âu là của Martín Fernández de Enciso (sinh khoảng năm 1470–mất 1528) trong quyển sách được viết năm 1519 của ông, Suma De Geographia Que Trata De Todas Las Partidas Y Provincias Del Mundo.[7][8] Tư liệu cổ nhất có dùng từ bơ trong tiếng Anh được viết bởi Hans Sloane trong một bảng liệt kê các loại cây cối ở Jamaica năm 1696. Cây bơ được đem đến Indonesia năm 1750, Brazil năm 1809, Nam Phi và Úc cuối thế kỷ 19, Levant năm 1908.